Ngọc Bích Nepphrite là gì?

Tổng quan về đặc tính của đá ngọc bích

✔️Tên khoa học: Nephrite, Ngọc Bích

✔️Tính chất vật lý

  • Độ cứng Mohs: 6-6,5
  • Tỷ trọng: 2,90-3,02; thường là 2,95.

✔️Tính chất quang học

✔️Phổ hấp thụ : nephrite có hai dải hấp thụ mờ ở 498nm và 460, và một vạch hấp thụ ở 509nm, và một số nephrite có đường hấp thụ kép ở 689nm.

✔️Cấu trúc tinh thể: Monoclinic, tinh thể dạng sợi dày đặc

✔️Công thức hóa học: Ca2Mg5 (Si4O11) 2 (OH) 2 – CaFe5 (Si4O11) 2 (OH) 2

✔️Vết vỡ:  Tách

✔️Sự hình thành: Đá biến chất sắt và đá giàu magiê.

✔️Ánh: Nhựa, ánh sáp hoặc ánh thủy tinh

Màu sắc của Ngọc Bích

Ngọc bích có nhiều màu sắc khác nhau nhưng phổ biến và được yêu thích nhất là màu xanh giống như ngọc lục bảo. Màu sắc có giá trị nhất của ngọc bích là ngọc bích trắng béo. Nó có màu giống như mỡ cừu và trắng, tương tự như màu kem cừu, được gọi là cổ ngọc rất hiếm có.

Màu trắng kem khi giàu Mg. Màu xanh, do Fe. Nâu (Fe bị oxy hóa), màu vàng, nâu xám, xanh lục đậm, đen). ngọc đen hoàng đế bao gồm các khoáng chất silicat của natri và nhôm.

  • Màu xanh trắng có chứa hàm lượng khoáng vật tremolite của nó thường khoảng 98%.
  • Hầu hết các sản phẩm ngọc bích của triều đại nhà Thanh đều được làm từ chất liệu ngọc bích khai thác tại Tân Cương với màu sắc chủ yếu là ngọc trắng, ngọc trắng xanh
  • Ngọc đen: ngọc mực dùng để chỉ ngọc có màu đen thuần khiết, đen sẫm, xám đen và đen. Chẳng hạn như ngọc đen Hetian. Ngọc đen Hoàng đế.

Khai thác ngọc bích thô

Khu vực khai thác Ngọc Bích chủ yếu tại Canada (British Columbia), đây là đất nước có phẩm chất ngọc bích đẹp nhất do chịu ảnh hưởng khắc nghiệt của tầng địa lý. Việc khai thác Ngọc Bích ở Canada rất khó khăn. Mùa đông kéo dài và lạnh, do đó thông thường việc khai thác chỉ có thể diễn ra vào mùa hè ngắn ngủi, khoảng 60 ngày một năm.

Khu vực khai thác có địa hình trắc trở, phải dùng máy bay trực thăng để di chuyển vào khu mỏ. Khai thác Ngọc Bích tại Siberia ( Nga)

khai thác ngọc bích tại canada

Người khai thác phải dùng giàn khoan thủy lực khoan vào mỏ Ngọc Bích để kiểm tra chất lượng

✔️Phân bố trên thế giới: Canada (British Columbia), chiếm 85% sản lượng của thế giới, chủ yếu được bán cho Trung Quốc, Úc (Cauville, Tasmania), Brazil, Hoa Kỳ (Wyoming, Alaska, California, Nanjiamei), New Guinea, Mexico, Nga (gần Siberian Baikal, cũng xuất khẩu sang Trung Quốc), Đài Loan, Zimbabwe, v.v.

  • Trong những năm qua, mặc dù nhu cầu Ngọc trên Thế Gioi đã thay đổi, nhưng sản lượng của các mỏ ngọc như Canada, Nga, Pakistan không thay đổi nhiều. Canada xuất khẩu khoảng 400 tấn nephrite mỗi năm, tương đối nhỏ so với xuất khẩu 20.000 tấn đá cẩm thạch jadeite hàng năm ở Myanmar. Trong 10 năm qua, khoảng 90% sản phẩm của Jade West Canada đã được bán cho Trung Quốc, khoảng 5% được bán cho Đài Loan và 5% được bán cho Việt Nam và Thái Lan. Tuy số lượng là như vậy nhưng hầu hết đá Ngọc đều ở dạng chất lượng xấu, Trung Bình đến khá. Để có được chất ngọc đẹp xanh đều và tươi sáng thì ngoài kiến thức lý tính về ngọc, kiến thức mua – bán ngọc, thì còn cả 1 nghệ thuật và đôi khi có cả yếu tố tâm linh đối với thương nhân mua Ngọc.
khối ngọc bích được ghi nhận thiên niên kỷ có trọng lượng 18 tấn được phát hiện vào năm 2000
Khối ngọc bích được ghi nhận thiên niên kỷ có trọng lượng 18 tấn được phát hiện vào năm 2000

Sự nhầm lẫn giữa Ngọc bích Nephrite và ngọc Cẩm thạch

Nếu đã dành thời gian tìm hiểu về Ngọc bích Nephrite, bạn sẽ thấy khá nhiều tài liệu đánh đồng Ngọc bích Nephrite là ngọc Cẩm thạch. Tuy nhiên, đây là hai dòng đá hoàn toàn khác nhau.

Ngọc Cẩm thạch ( ngọc cứng) có thành phần hóa học gồm NaAlSi2O6 hoặc Na(Al, Fe3+)Si2O6. Trong khi đó, Ngọc bích Nephrite ( ngọc mềm) có cấu tạo từ Ca2(Mg,Fe)5Si8O22(OH) 

Tên khoa học: Jadeite còn gọi là JADEITE JADE, thay vì NEPHRITE JADE của NGỌC BÍCH

Văn Hóa Ngọc Bích

Trong hàng ngàn năm, các nghệ nhân Trung Quốc đã tạo ra những đồ trang sức và tác phẩm nghệ thuật đáng kinh ngạc từ một hòn đá mà họ gọi là yu.

Ngọc Bích được coi là 1 biểu tượng quan trọng gắn liền với nền văn hóa dân gian của Trung Quốc.

Nephrite chủ yếu được khai thác tại Hetian , Tân Cương , Trung Quốc , vì vậy nó còn được gọi là ngọc bích Hetian. Vào năm 2003 đã được chỉ định là “ngọc quốc gia của Trung Quốc.”

Để giới thiệu một nền văn hóa ngọc tự hào, Trung Quốc đã khảm ngọc bích vào các huy chương được sử dụng trong Thế vận hội Olympic Bắc Kinh 2008. 

Đây là một hiệu ứng rất thành công đã khơi dậy mối quan tâm của Thế Giới đối với nephrite, thúc đẩy sự bùng nổ khai thác nephrite ở Canada và Nga trong năm 2009 và 2010.

Ở Trung Quốc, Khổng Tử tuyên bố rằng ngọc bích có năm đức tính tuyệt vời: công bằng, từ thiện, trí tuệ, lòng can đảm, tinh khiết, có thể là lý do tại sao nó là lựa chọn đầu tiên cho đá quý ở đất nước này.

Ngọc bích là chất liệu ngọc chính của các mặt hàng ngọc cổ của Trung Quốc.

Nhiều cổ vật bằng ngọc được khai quật trong lăng mộ của các hoàng tử thời nhà Hán.

Năm 1736, Hoàng đế Càn Long lên ngôi. Ông coi văn hóa ngọc là một phần quan trọng của văn hóa Trung Quốc. Ông rất coi trọng việc thu thập và nghiên cứu các sản phẩm ngọc bích.

ấn ngọc càn long bằng ngọc bích

Đây là con dấu chính thức của triển lãm thế giới tại Thượng Hải 2010.Con dấu này được chạm khắc bởi bậc thầy Zhang Tiecheng (Zhang Tiecheng), mô phỏng theo ấn ngọc được sử dụng bởi Hoàng đế Càn Long.

Bảo tàng Cung điện được thành lập trên cơ sở các di tích cung điện của triều đại nhà Minh và nhà Thanh khai quật được, có một bộ sưu tập đáng kể các vật phẩm bằng cổ ngọc. Trong số đó, hơn 10.000 tác phẩm được Càn Long thu thập, chế tác và sử dụng.

Ý NGHĨA NGỌC BÍCH NEPHRITE

Vì sao Ngọc bích Nephrite đẹp mê hoặc lòng người?

Ngọc bích Nephrite được đánh giá là loại đá quý có khả năng đẹp mê hoặc lòng người. Chính sắc xanh dịu mắt cùng độ sáng, trong, tinh tế và liên kết bền chắc đã khiến sản phẩm trở nên khác biệt.

Sử dụng dòng này để làm vòng đeo tay, vòng cổ cũng như nhiều vật phẩm phong thủy khác sẽ giúp bạn trở nên sang trọng, đẳng cấp hơn. Mặt khác, chính những ý nghĩa phong thủy Ngọc bích Nephrite sở hữu càng khiến loại trang sức từ dòng đá quý kể trên trở nên đắt giá.

ngọc bích là gì

Cụ thể:

  • Các chuyên gia phong thủy cho rằng sở hữu Ngọc bích Nephrite là cách giúp bạn tăng cường thể chất, củng cố sức khỏe rất tốt. Dòng sản phẩm này không chỉ hợp với phái đẹp mà còn rất hợp với nam giới. Sử dụng vật phẩm từ loại đá quý kể trên sẽ giúp bạn củng cố sức mạnh nội thân để dễ dàng thành công hơn.
  • Mặt khác, Ngọc bích còn là sự lựa chọn tuyệt vời để cân bằng các mối quan hệ xung quanh. Sở dĩ có điều này vì sắc xanh ngọc là đại diện của hành Mộc. Đây là hành duy nhất trong ngũ hành có khả năng dung hòa, hóa giải tất cả các hiềm khích, tương khắc của các hành còn lại.
  • Chưa dừng lại ở đó, Ngọc bích Nephrite còn có thể lưu thông khí huyết, hỗ trợ điều trị bệnh ung thư và nhiều căn bệnh mãn tính khác.

Do vậy, chọn mua Ngọc bích Nephrite chuẩn sẽ giúp quý vị vừa có cuộc sống nhiều thuận lợi, vừa sở hữu trang sức hoàn mĩ, khác biệt để củng cố đẳng cấp của mình.

VUA TRỜI HỎI PHẬT

VUA TRỜI HỎI PHẬTMột vị Vua Trời đến gặp Phật trong một hóa thân người Bà La Môn, với vẻ mặt rạng rỡ và bộ trang phục trắng như tuyết. Vị Vua Trời hỏi nhiều câu mà đức Phật trả lời được ghi lại như sau.

Vua Trời hỏi: – Bạch đức Thế Tôn ! 1/ Thanh kiếm nào sắc bén nhất ?2/ Chất độc nào tàn hại nhất ?3/ Ngọn lửa nào dữ dội nhất ? 4/ Bóng đêm nào đen tối nhất ?

Ðức Phật đáp: 1/ Lời nói trong lúc giận dữ là thanh kiếm sắc bén nhất2/ dục vọng là chất độc tàn hại nhất3/ đam mê là ngọn lửa dữ dội nhất4/ vô minh là bóng đêm đen tối nhất.

Vị Vua Trời lại hỏi: – Bạch đức Thế Tôn ! 5/ Ai là người lợi lạc nhiều nhất ? 6/ Ai là người chịu thiệt thòi nhất ? 7/ Áo giáp nào không thể bị xuyên thủng ? 8/ Vũ khí nào lợi hại nhất ?

Ðức Phật trả lời:5/ Người lợi lạc nhiều nhất là người đã cho đi nhiều, mà không thấy đã cho. 6/ Kẻ chịu thiệt thòi nhất là kẻ chỉ biết nhận một cách tham lam mà không chút biết ơn. 7/ Nhẫn nhục là áo giáp không xuyên thủng được. 8/ Trí tuệ là vũ khí lợi hại nhất.

Vị Vua Trời hỏi: – Bạch đức Thế Tôn ! 9/ Ai là kẻ trộm nguy hiểm nhất ? 10/ Cái gì là kho tàng quý báu nhất ? 11/ Ai đã thành công trong việc chiếm đoạt bằng vũ lực không chỉ trên thế giới này, mà còn trên thiên giới ? 12/ Ðâu là nơi an toàn nhất để kho báu ?

Ðức Phật trả lời: 9/ Những tư tưởng xấu xa là kẻ trộm nguy hiểm nhất. 10/ Ðức hạnh là kho tàng quý báu nhất. 11/ Tâm thức con người chiếm đoạt mọi sự không chỉ trên thế giới này, mà còn trên thiên giới. 12/ Đất Vô Sanh là nơi an toàn nhất để kho báu.

Vua Trời hỏi tiếp: – Bạch đức Thế Tôn ! 13/ Cái gì là hấp dẫn ? 14/ Cái gì là ghê tởm ? 15/ Cái đau nào thống thiết nhất ? 16/ Cái vui nào lớn nhất ?

Ðức Phật trả lời:13/ Điều Thiện là hấp dẫn. 14/ Điều Ác là ghê tởm. 15/ Một lương tâm bị dầy vò là nỗi đau thống thiết nhất. 16/ Sự giải thoát là cái vui lớn nhất.

Vua Trời lại tiếp tục hỏi: – Kính bạch đức Thế Tôn ! 17/ Cái gì gây ra sự tàn phá trên thế giới ? 18/ Cái gì làm tình bạn tan vỡ ? 19/ Cơn sốt nào mãnh liệt nhất ? 20/ Ai là vị thầy thuốc giỏi nhất ?

Ðức Phật trả lời:17/ Sự tăm tối, vô minh gây ra sự tàn phá trên thế giới.18/ Sự ganh tị và ích kỷ làm tình bạn tan vỡ. 19/ Hận thù là cơn sốt mãnh liệt nhất20/ và Vị Thầy Phật Pháp là vị thầy thuốc giỏi nhất.

Vị Vua Trời hỏi câu cuối : – Bạch đức Thế Tôn! Bây giờ con chỉ còn một thắc mắc, xin đức Thế Tôn giải đáp cho. Cái gì mà không bị lửa đốt cháy không bị nước làm mòn không bị gió làm đổ mà lại có thể cải cách cả thế giới

Ðức Thế Tôn trả lời : – Đó là Phước đức : Không có lửa nào, nước nào, gió nào có thể hủy diệt được phước đức của một việc thiện, và những phước đức đó có năng lực cải cách cả thế giới.Namo Sakya Muni Buddha! LỜI PHẬT DẠY-ST-

TÌM HIỂU VỀ ĐÁ NGỌC BÍCH VÀ NHỮNG THÔNG TIN HỮU ÍCH

ừ thời xa xưa, Đá ngọc bích đã được ưa chuộng ở phương Đông và phương Tây được xem như là viên đá của đế vương là bảo vật của hoàng gia. Nhưng mấy ai đã tìm hiểu kỹ về giá trị cũng như ý nghĩa của loại Ngọc này khi trên thị trường tràn lan đá giả và nhân tạo. Nếu bạn đang có ý định mua hoặc sắp mua Ngọc bích Nephrite thì hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về loại Ngọc này. Từ đó tránh trường hợp tiền mất tật mang sử dụng sản phẩm kém chất lượng!

Giá trị của Ngọc Bích

“Vàng có giá nhưng ngọc bích là vô giá” 

Từ thời xa xưa tại Trung hoa khoảng 3000 năm trước công nguyên đá Ngọc bích đã trở thành biểu tượng “Ngọc” của “Hoàng gia” tượng trưng cho sự quyền quý, cao sang nên nó thường được vua chúa sử dụng để khẳng định quyền lực và tính giai cấp. Nó còn được coi là một vật thiêng liêng giúp gắn kết thế giới của người sống và người chết. Bên cạnh đó loại đá này còn thể hiện 5 đức tính: Sự rộng lượng, Sự trung thực, Thông thái, Chính trực và Quả cảm theo “Thuyết Văn Giải Tự” Xu Shen thời Đông Hán.

Cấu tạo của Đá Ngọc Bích

– Ngọc Nephrite được hình thành bởi khoáng chất silicat bao gồm: Silicat Canxi Magiê, Tremolite-Actinolit. Với công thức hóa học: Ca2 (Mg, Fe)5 Si8022 (0H)2

– Cấu trúc tinh thể: Monoclinnic, các loại sợi tổng hợp xen kẽ;

– Độ cứng: 6 – 6,5 Mohs (Mohs đơn vị tính độ cứng thang cao nhất là 10), Đối với đá cẩm thạch Jadeite có độ cứng từ 6.5 – 7 Mohs

– Chiết suất: 1.600 đến 1.627

– Mật độ/ trọng lượng riêng: 2,98-3,3 g / cm3.

– Tính chất: Mờ trong đến trong

Khai thác và phân bố

Ngọc bích Nephrite được biết đến nhiều nhất là ở Myanmar (Ngọc Miến Điện) và được du nhập giao thương vào trung quốc vào thế kỷ thứ XIV. Khi Ngọc bích ở trung quốc khai thác gần như là cạn kiệt, Hiện tại đá Nephrite được khai thác tại trung quốc ở khu vực Tân Cương với gam màu xanh lạnh khá đặc biệt. Trên thực tế thì màu xanh ngọc bích có giá trị nhất lại tập trung tại Bắc Canada (British Columbia), Siberia (Nga).  75% trữ lượng trên thế giới đến từ các mỏ của British Columbia  và số lượng ở Đài Loan, Hoa Kỳ, Australia Trung Á, Úc, New Zealand, Nhật Bản…

bản đồ phân bố

KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT Triều Vua ĐẠI ĐƯỜNG: Nước VU ĐIỀN Tam Tạng Sa Môn: ĐỀ VÂN BÁT NHÃ vâng chiếu dịch. Việt Nam. Tỳ kheo THÍCH THIỆN THÔNG dịch ra Việt văn.

Lời giới thiệu

Nhiều người biết: hễ ai thành tâm tạo tượng Phật, thì có được nhiều công đức, nhưng ít người biết số lượng công đức đó như thế nào, chính trong Kinh TẠO TƯỢNG PHẬT này, Đức Phật dạy rõ điều đó.

Tuy nhiên, phải thành tâm tạo tượng Phật, có đủ tướng tốt trang nghiêm, nếu không được toàn hảo thì ít ra cũng phải có đủ những nét biểu hiện Đại trí, Đại từ, Đại giải thoát, hoặc như trong kinh này dạy: “Phải đủ hai tướng: “Bạch hào và nhục kế, để khi nhìn vào, biết là tượng Phật” dễ phát khởi lòng kính tin, thì mới có công đức. Trái lại, tạo tượng Phật mà không biểu lộ được tướng gì của Phật và khi nhìn vào cũng không biết đó là tượng Phật, không phát khởi được tín tâm, còn xem thường nữa, thì việc tạo tượng như vậy tất nhiên là không có công đức, lắm lúc còn mang tội nữa là khác.

Vì vậy, để giúp sự hiểu biết đúng đắn sâu sắc về công đức tạo tượng Phật, tôi xin tán thán và hoan hỷ giới thiệu bản dịch kinh “CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT” này của Tỳ kheo Thích Thiện Thông đến quý vị Phật tử.

Chùa Từ Đàm, ngày 5 tháng 5 năm 1993

HT. Thích Thiện Siêu

THAY LỜI TỰA

Tạo hình tượng Phật hoặc hình tượng Bồ Tát, là việc làm có một ý nghĩa cao quý và gây một cái nhơn công đức, phước đức lớn lao! Cho nên hơn 2500 năm, sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, hàng xuất gia, tại gia đệ tử của Phật, từ Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, các nước Phật giáo trên thế giới cho đến Việt Nam, đã có không biết bao nhiêu người tạo lập hình tượng chư Phật, Bồ Tát để chiêm ngưỡng, lễ lạy, cúng dường.

Trước khi lược nêu công đức, phước đức của sự tạo tượng Phật, chúng ta hãy ngược giòng thời gian, tìm hiểu xuất xứ của việc tạo hình tượng Phật bắt nguồn từ đâu và ai là người đầu tiên phát tâm tạo hình tượng Phật.

Một sự tình cờ đưa đến cho chúng tôi là: Năm 1992 trong mùa an cư, sau khi dịch xong kinh CHƯ ĐỨC PHƯỚC ĐIỀN và kinh TỐI VÔ TỶ (kinh nói về công đức Quy y Tam Bảo), chúng tôi đọc đến kinh ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT, là bộ kinh gồm hai quyển, mang số 694 trong Hán Tạng Đại Chánh Tân Tu. Xem xong bộ kinh, chúng tôi vô cùng mừng rỡ, vì nhận ra những điều mới lạ mà từ trước đến nay, trong các bản kinh Phật giáo Việt dịch, tôi chưa từng gặp bản nào dịch về kinh này. Nhưng có thể nói trong quyển “Tam Bảo Cảm Ứng”, ngài Thích Thiền Tâm có dịch một vài tiểu tiết, liên quan đến việc tạo tượng Phật của vua ƯU ĐIỀN (kinh này dịch là vua Ưu Đà Diên).

Căn cứ vào kinh ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT đây thì, khi Phật còn tại thế, vua Ưu Đà Diên, trị vì nước Câu Diệm Di, là người đầu tiên đã dùng gỗ thơm Chiên đàn đỏ, tạo ra hình tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Vậy nguyên do nào vua Ưu Đà Diên tạo hình tượng Phật? Động cơ thúc đẩy vua Ưu Đà Diên tạo hình tượng Phật là bởi nguyên do như vầy:

Sau thời gian gần 49 năm thuyết pháp độ sanh, trong một mùa an cư 90 ngày (có lẽ là mùa an cư cuối cùng), Đức Phật vắng bóng ở trần gian, Ngài lên cung trời Đao Lợi nói kinh, giáo hóa chư Thiên và độ thân mẫu là Ma Gia phu nhơn được chứng thánh quả, thì vua Ưu Đà Diên không tìm thấy Đức Phật nơi đâu, lòng khát ngưỡng nhớ mong cực độ, đến nỗi vua này bi cảm âu sầu nhiều ngày, xao lãng cả việc triều chính và không màng đến thú vui vương giả. Vua không biết cách nào gặp Đức Phật cho đỡ nhớ mong, bèn nghĩ đến cách tạo tượng Phật.

Vua triệu tập các tay thợ điêu khắc nổi tiếng trong nước để tạo tượng Phật, nhưng ai cũng từ chối không dám nhận lời, vì họ nghĩ rằng: Sắc thân của Phật tướng tốt tuyệt vời, e rằng tượng Phật tạo ra nếu có sai lầm, sẽ làm cho họ đắc tội và lui mất thanh danh. Khi đó có vị thần Tỳ Thủ Yết Ma, tương truyền là vị thần điêu khắc, đã biến thân ra làm người thợ mộc, ông mang dụng cụ đến nhận trách nhiệm tạo hình tượng Phật để giúp nhà vua. Thần Tỳ Thủ Yết Ma trổ hết tài năng, chỉ trong một gnày là xong tượng Phật, cao bảy thước mộc, tượng màu vàng tía, đủ các tướng tốt, khiến người nhìn đến biết là tượng Phật.

Vua Ưu Đà Diên tạo tượng Phật xong, tiếng vang lan truyền các nước lân cận, vua các nước lớn như vua Ba Tư Nặc, vua A Xà Thế và vua Nghiêm Xí, đều đem lễ vật đến cúng dường chiêm ngưỡng và đều khen việc làm của vua Ưu Đà Diên.

Thời gian ba tháng chấm dứt, Đức Phật trở xuống cõi Diêm Phù Đề, vô lượng chư Thiên trong sáu cõi trời Dục giới, 18 cõi trời Sắc giới, đồng dâng lễ cúng dường Đức Phật và tiễn đưa Ngài trở lại trần gian. Hàng đệ tử xuất gia, tại gia ít nhất là bốn nước, gồm đủ mọi thành phần, đã tụ hội về thành Tăng Già Thi cung đón Đức Phật. Một quang cảnh vô cùng vĩ đại vô tiền khoáng hậu đã diễn ra lúc đó, ấy là cuộc hội kiến Thần tiên giữa Trời và người, chưa từng có trong nhân loại. Tất cả những ai thành tâm mang những lễ phẩm cúng dường Đức Phật, đều thành tựu phước đức và thành tựu cái nhân đắc độ hiện tiền và đời sau, nhiều phái ngoại đạo nhơn đó mà bỏ tà về chánh, quy y Tam Bảo. Như thế, Đức Phật đã hoàn thành bản nguyện độ sanh của Ngài, khi xuất hiện trên cõi đời này. Cho nên trong kinh DI GIÁO có chỗ ghi rằng: “Những người đáng độ ta đã độ xong, những người chưa được độ, ta cũng đã gây nhân duyên cho họ được độ sau này…” Đây rõ ràng là lòng từ bi vô tận, cứu độ chúng sanh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Thế Tôn của chúng ta.

Để các chúng sanh đời sau hiểu rõ phước đức, công đức tạo tượng Phật, Ngài Di Lặc Bồ Tát đã thay mặt tất cả phàm Thánh, thưa hỏi Phật về công đức tạo tượng của vua Ưu Đà Diên, Đức Phật tuần tự nói về phước báo và công đức thù thắng của người có tâm thành tín thanh tịnh tạo ra tượng Phật. Kinh này ghi rõ những phước báo về công đức chẳng thể nghĩ bàn ấy. Dưới đây chúng tôi xin trích dẫn một vài đoạn để chư vị có một khái niệm sơ qua:

“Di Lặc! Nếu có người nào dùng những tơ sợi thêu thùa tượng Phật, hoặc là nấu đúc bằng thứ vàng, bạc, đồng, sắt, chì, kẽm, hoặc điêu khắc bằng gỗ thơm Chiên đàn, hoặc khắc bằng thứ trân châu, sò ốc, gấm vóc dệt thành, đất đỏ, xi măng, thạch cao, đất sét, hoặc các thứ gỗ… Dùng những vật đó tùy phần sức mình tạo ra tượng Phật, cho đến rất nhỏ như ngón tay cái, có thể khiến cho người khác nhìn biết đó là tượng Phật, phước báo người đó nay ta sẽ nói:

“Di Lặc! Những người như vậy ở trong sanh tử, tuy còn trôi lặn, trọn chẳng sanh tại gia đình nghèo cùng, cũng chẳng sanh nhà giòng dõi thấp hèn, cô đơn hẻo lánh ở ven cõi nước, lại cũng chẳng sanh vào nhà tà kiến, con buôn con bán, nhà làm hàng thịt, cho đến chẳng sanh vào giòng hèn hạ, kỹ nữ bất tịnh, hoặc nhà ngoại đạo khổ hạnh tà kiến, trừ khi vì sức thệ nguyện Từ Bi, ngoài ra chẳng sanh vào những nhà ấy.

“Người này thường sanh vào nhà thuộc giòng tộc vua Thánh Chuyển Luân có thế lực lớn, hoặc sanh giòng Bà La Môn tịnh hạnh, hoặc nhà giàu sang không tạo tội nặng. Sanh ở nơi nào cũng thường gặp Phật vâng thờ cúng dường, hoặc được làm vua thọ trì chánh pháp, đem pháp giáo hóa không trái đạo, hoặc làm vua Thánh Chuyển Luân oai hùng. Sanh ra nơi nào cũng là đàn ông, không chịu thân nữ. Lại chẳng chịu thân Huỳnh môn hai hình là thứ hèn hạ, thân được thọ sanh không bị xấu xí. Mắt chẳng mù chột, tai chẳng điếc lác, mũi chẳng cong gãy, miệng chẳng méo lệch, môi chẳng trề xuống cũng chẳng túm rút, răng chẳng thưa thiếu, chẳng đen, chẳng vàng, lưỡi chẳng ngắn thụt, cổ chẳng bướu nhọt, thân chẳng lưng gù, da chẳng loang lổ, tay chẳng cụt ngủn, chân chẳng lệch què, chẳng quá ốm o, chẳng quá béo mập, cũng chẳng quá dài, cũng chẳng quá ngắn, đều không có các tướng chẳng đáng ưa…”.

Trên đây là một ít điều trích dẫn về phước báo dòng dõi thân tướng của người tạo tượng Phật. Ngoài những phước báo trên, còn có những quả báo khác là: trừ diệt các thứ nghiệp chướng như: Năm tội đại nghịch, mười nghiệp chẳng lành, bốn tội phạm nặng v.v… nói chung là những nghiệp ác nặng nề nhất mà một con người có thể lãnh nhận, nhưng nếu phát tâm thành tín tạo tượng và sám hối, thề không tái phạm, thì những nghiệp ác, những quả báo ấy đều bị tiêu diệt.

Tại sao công đức tạo tượng to lớn như vậy?

Bởi vì các Đức Như Lai, từ khi phát tâm tu hành cho đến thành Phật, đã trải qua vô biên A tăng kỳ kiếp, chứa nhóm vô lượng phước đức, thành tựu vô biên công đức,trí tuệ, các Ngài thường dùng các thứ công đức ấy hộ trì cho các chúng sanh có đức tin thanh tịnh, do vậy mà sự tạo tượng Phật có thể trừ diệt các thứ nghiệp ác sâu nặng.

Vả lại, tâm lực của mỗi chúng sanh, hay của mỗi người chúng ta vốn chẳng thể nghĩ bàn, vốn sẵn đủ hằng sa công đức, diệu dụng. Nếu chúng ta thường tư duy về những công đức của Phật, thường quán xét các Đức Như Lai có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, có 10 lực, bốn món Vô úy, sáu Ba la mật, đại từ, đại Bi và đại Trí tuệ. Chính khi tư duy về những công đức của chư Phật, tức là phát động cái nhân công đức chẳng thể nghĩ bàn của chính chúng ta. Do năng lực huân tập này mà những nghiệp ác cực nặng và những quả báo xấu có thể chuyển đổi. Ta quán sát tướng hảo nơi sắc thân ta. Hạt giống đã có thì quả sẽ phát sanh và khi quả phát sanh là ta sẽ có các tướng hảo. Đạo lý này vốn chơn thật và không sai lạc bao giờ.

Nói tóm lại, nhờ tư duy công đức chư Phật bên ngoài, cho nên thành tựu công đức của Phật tâm bên trong tâm chúng ta. Nhờ tư duy công đức của Phật bên trong tâm chúng ta, cho nên thành tựu các phước báo thuộc sắc thân và hoàn cảnh bên ngoài. Đây là một đạo lý vi diệu, được gọi là Đại thừa, sự tạo tượng Phật này nằm trong đạo lý vi diệu đó, cho đến bộ kinh nói về việc tạo tượng đây, được gọi là KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT.

Kinh này gồm hai quyển, được trình bày bằng một lối văn sắc sảo trác việt. Nội dung của kinh, ngoài việc nói về công đức phước đức do tạo tượng mà thành, kinh cũng dạy rõ những phương tiện siêu thắng khéo lạ của Đức Phật, vì giáo hóa chúng sanh, Ngài thị hiện có các chướng nạn v.v… Điều này trong giới Phật tử chúng ta, trừ những bực cao minh, ngoài ra ít ai biết đến.

Kinh cũng dạy rõ những nguyên nhân nào làm cho chúng sanh phải chịu thân nữ, huỳnh môn, hai hình, sanh thời không có Phật pháp, hoặc sanh vào những nơi hoang dã, biên cương v.v… Thật là những điều chúng ta khó gặp, khó hiểu.

Nhân thấy bộ kinh có một giá trị và lớn lao như vậy chúng tôi gắng công dịch ra Việt ngữ để cống hiến cho thời đại hiện nay và đóng góp phần nhỏ mọn trong chủ trương Việt dịch Tam Tạng Thánh điển của Phật giáo Việt Nam.

Lại vì, một bộ kinh có giá trị về mặt văn chương tư tưởng, còn bao gồm nhiều từ ngữ thuật ngữ phong phú về Hán tự, có thể giúp ích cho những vị đang học Hán văn hiện nay, chúng tôi trình bày cả phần Hán tự và phần âm Việt ngữ, để tiện lợi cho sự đọc tụng của những vị ưa thích.

Mặc dầu cố gắng nhiều, nhưng việc làm và sự suy luận của chúng tôi vẫn là nông cạn và nhiều sai sót, nhưng hiểu được thế nào, chúng tôi ghi lại thế ấy, rất mong những bậc cao minh chỉ giáo cho.

Người dịch kính ghi,

Mùa Vu Lan năm Quý Dậu 1993

Tỳ kheo Thích Thiện Thông.

ĐỌC KINH VĂN TẠI ĐÂY: https://thuvienhoasen.org/a15621/kinh-dai-thua-cong-duc-tao-tuong-phat

Công Đức Tạo Tượng Phật Kinh Pháp Hoa – Phẩm Phương Tiện – Phẩm 2 Hòa Thượng Tuyên Hóa lược giảng

Kinh văn:

Nếu như người vì Phật

Xây dựng các hình tượng

Chạm trổ thành các tướng

Đều đã thành Phật đạo.

Hoặc dùng bảy báu làm

Thau, đồng bạch, đồng đỏ

Chất nhôm cùng chì kẽm

Sắt, gỗ hoặc đất sét

Hoặc dùng vải sơn keo,

Nghiêm sức làm tượng Phật

Những người như thế đó

Đều đã thành Phật đạo

Lược giảng:


Nếu như người vì Phật, xây dựng các hình tượng. Những người để cúng dường Phật đã làm các hình tượng, bằng cách chạm trổ thành các tướng, tất cả tướng vi tế của chư Phật mười phương, đều đã thành Phật đạo. Họ đã thành Phật đạo.

Hoặc dùng bảy báu làmvàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não, hoặc thau, đồng bạch, đồng đỏ; chất nhôm cùng chì kẽm; sắt, gỗ hoặc đất sét; hoặc dùng vải sơn keo; nghiêm sức làm tượng Phật. Những người như thế đó; đều đã thành Phật đạo. Tạo tượng Phật có mười một thứ công đức :


1. Đời đời kiếp kiếp quý vị có mắt sáng suốt thấy rõ.

2. Quý vị không sanh vào nơi ác. Bạn bè và láng giềng đều là người tốt. Quý vị sẽ chẳng gặp người ác hay thú dữ.

3. Quý vị luôn sanh trong nhà giàu sang. Sanh vào nhà giàu có được tôn kính.

4. Thân thể quý vị màu hoàng kim.

5. Quý vị giàu có dồi dào.

6. Quý vị sanh vào nhà hiền lành.

7. Quý vị có thể được sanh làm vua. . Ngày nay không có Hoàng Đế, nhưng quý vị có thể làm Tổng Thống. Điều đó cũng giống nhau. Hoặc nếu quý vị cứ nhất định muốn làm Hoàng Đế thì quý vị có thể tìm một nước quân chủ và sanh về nước đó.

8. Quý vị có thể làm Chuyển luân vương. Làm Chuyển luân vương còn cao hơn tổng Thống. Khi là Chuyển luân vương nếu quý vị tu hành thì quý vị có thể thành Phật.

9. Quý vị có thể sanh về cõi trời Phạm thiên và sống lâu đến một kiếp. Quý vị có thể làm vua thiên nhân.

10. Quý vị sẽ không đoạ vào đường ác. Những người làm tượng Phật thì sẽ không đọa vào địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.

11. Đời đời kiếp kiếp trong tương lai quý vị đều tôn kính Tam Bảo, quy y Tam Bảo, chẳng đọa lạc.

Nghe được mười một thứ công đức tạo tượng Phật này, nếu chúng ta có khả năng, thì nên tạo thêm nhiều tượng Phật nữa. Nếu quý vị tạo tượng Phật thỉ tướng mạo của quý vị rất viên mãn. Tại sao tướng mạo của Phật viên mãn như thế ? Vì trải qua ba đại A Tăng Kỳ kiếp, Ngài đã tạo vô số tượng Phật. A Tăng Kỳ kiếp thứ nhất Đức Phật gặp hơn 75 ngàn vị Phật, A Tăng Kỳ kiếp thứ hai gặp hơn 76 ngàn vị Phật, A Tăng Kỳ kiếp thứ ba gặp hơn 77 ngàn vị Phật. Ngài gặp nhiều vị Phật như vậy thì tất nhiên Ngài đã tạo tượng Phật càng nhiều hơn số đó, Ai có thể biết được ngài đã tạo bao nhiêu tượng Phật? Cho nên tướng mạo của Ngài viên mãn phi thường. Nhưng khi tạo tượng Phật, chúng ta không nên nghĩ rằng: “Tôi sẽ tạo một tượng Phật và rồi tôi sẽ đẹp đẽ, và mọi người sẽ yêu thương tôi.” Đó không phải là động lực chính đáng. Chúng ta nên tu phước huệ để tương lai thành Phật Đạo. Những người tạo tượng Phật tất cả đều đã thành Phật.

Malachite a Stone of Transformation – Malachite Viên đá ngọc của sự Chuyển Di





Malachite là một khoáng chất hydroxit đồng cacbonat có liên quan rất chặt chẽ với azurite và cả hai đều có chung thành phần hóa học. Trong khi azurite có màu xanh lam, malachite có màu xanh lá cây, và nó được hình thành từ từ khi azurite phản ứng với oxy trong không khí và da ướt át, để lại một khoáng chất ổn định hơn.

Malachite xuất hiện trong nhiều sắc thái của màu xanh lá cây và khi được đánh bóng, nó thể hiện tất cả các loại hoa văn sáng và tối trên bề mặt của nó, tương tự như mã não và jasper. Tương tự như azurite, độ cứng của nó là 3,5-4 trên thang Mohs, có nghĩa là nó không phải là một loại đá rất bền cho đồ trang sức, mặc dù nhiều người yêu thích nó cho hạt và dây chuyền và nó sẽ luôn có nhu cầu cao như đá trang sức. Lưu ý: Tốt nhất là chỉ sử dụng malachite được đánh bóng cho đồ trang sức hoặc xử lý thường xuyên vì có một rủi ro nhỏ là nó có thể bị rò rỉ đồng.

Malachite được biết đến trong các vòng tròn siêu hình như một hòn đá của sự biến đổi. Nhìn vào các đặc tính vật lý, có lẽ nó được hiểu là một hòn đá với tính chất này, là một khoáng chất phái sinh thu được từ sự biến đổi của azurite. Tuy nhiên, người dùng đá quý tin rằng nó thực sự có một cách nhẹ nhàng để dần dần thay đổi một phiên bản thành một phiên bản tốt hơn của chính mình theo thời gian, chỉ đơn giản bằng cách làm việc lặng lẽ trong nền nội tâm. Nó giúp người ta nhìn vào bên trong bản thân và thừa nhận các lý do nguyên nhân, tình cảm đằng sau các rối loạn, do đó hỗ trợ cho việc giải phóng họ, tạo điều kiện cho việc chữa lành.

Malachite biệt hữu ích cho luân xa tim giữa (Luân xa số 4), và như vậy, có tác dụng cân bằng trên các luân xa còn lại. Người ta tin rằng malachite đại diện cho tình yêu, lòng trung thành và tình bạn, trong khi được coi là viên đá may mắn cho những nỗ lực kinh doanh. Malachite khuyến khích người ta chấp nhận trách nhiệm cho những hành động của mình và kích thích lý luận theo bản năng và trực giác. Những người làm việc trong các công việc đòi hỏi trách nhiệm nặng nề (như phi công), có thể thấy malachite là một loại đá hỗ trợ và bảo vệ phù hợp.